
Quê ngoại bên kia bãi cát vàng (thơ
Yến Lan)
“Miền quê này, không phải là vùng sông
nước, nhưng đây là nơi có con sông Côn và những nhánh
nhỏ của nó chảy qua. Như thế, nó cũng đủ tạo ra cảnh
trên bến dưới thuyền, con đò bến nước ở nhiều nơi. Và
chẳng biết từ đời nào, những con đò bến nước đã trở
thành thân thương đối với mọi người: “Anh về Đập Đá đưa
đò/ Trước đưa quan khách sau dò ý em” (Ca dao).
“Có cái bến nước chỉ là một chỗ lội. Làng Háo Đức, làng
Cẩm Văn cùng ở dọc theo hai bên bờ con sông Cẩm Văn.
Người hai làng qua lại nhau, nhờ vào một chỗ lội là cái
Bến Thùng. Anh trai làng Háo Đức vì thương cô gái làng
Cẩm Văn, mà phải lội qua Bến Thùng ngày mấy lần để có
một ngày họ thành chồng vợ, bằng một đám cưới hai họ và
cô dâu chú rể cùng vén quần lội qua sông.
“Hồi nhỏ, tôi ở quê ngoại, và vẫn giữ nhiều kỷ niệm thời
thơ ấu với cái bến Chùa và con sông Gò Chàm chảy qua quê
mình. Nơi này, tôi đã tiễn người chị bên họ ngoại tôi đi
lấy chồng, là “đường” tôi đi học, là mặt gương trong cho
làng An Định soi bóng nước, dòng trong cho tôi tắm mỗi
ngày tuổi thơ mình để cho tới bây giờ đầu hai thứ tóc,
tôi vẫn nhìn đời bằng đôi mắt trong veo của mình…
“Lâu lâu, tôi được bà ngoại dẫn đi chợ Đập Đá. Có hôm để
đo may một bộ quần áo mới, có hôm để cúp tóc hoặc để mua
một tập vở học trò cùng mấy viên mực tím, ngòi bút lá
tre… Lần nào, chúng tôi cũng dậy thật sớm, từ lúc gà gáy
lần đầu. Đi hết một thôi đường đất là tới bờ sông và từ
đó hai bà cháu tôi xuống đò ngang để tới chợ cùng với
nhiều người khách đi đò khác. Ông lái đò, có tên là Bầu
Sáo vì ông còn kiêm nghề làm bầu một gánh hát mang tên
ông: Gánh hát bội Bầu Sáo. Người ông cao như cây sào,
ông đội nón lá, đứng đằng lái, vừa chống đò vừa hút
thuốc nhả khói vào màn sương đêm dày đặc. Ngồi đò ngang
qua sông trên chiếc sõng rẽ sóng nước lăn tăn, tôi nhìn
ra xung quanh trong ánh trời buổi mờ đất. Bao cảnh vật
hãy còn say ngủ. Chỉ có con đò của ông Bầu Sáo là thức
dậy sớm.
Đường lên cầu Trường Thi
“Bến sông Đập Đá là một cảnh trên bến
dưới thuyền, đò chạy trên sông như thoi đưa. Từ sáng sớm
cho tới chiều tối, đò dọc chở măng le, trầu nguồn… từ An
Khê, Vĩnh Thạnh xuôi xuống; chở cá nục, cá mòi… từ Gò
Bồi, Phước Lý ngược lên; đò ngang chở hàng, người đi chợ
từ mọi làng quê đổ về. Khách thương hồ, khách tài tử
phong lưu, nhiều người không rõ quê quán, cũng theo
những chuyến đò mà đổ về Đập Đá để làm ăn kiếm lời và để
ăn chơi”.
Ông anh họ vẫn thức đến quá khuya để kể tiếp về câu
chuyện mà anh đang nhiệt thành và say sưa.
“Vùng quê này, ở đâu có bến sông con đò, ở đó có phố
chợ, có lều quán, có cảnh bán buôn. Chợ Gò Chàm, thị
trấn Đập Đá, chợ Phú Đa, chợ Cảnh Hàng, thủ phủ An Thái…
đều như vậy. Bao thế hệ người Hoa đi đường biển, vào
cảng Thị Nại, rồi từ đó mà theo sông Côn lên tận An Thái
để sống đời định cư và góp phần cùng người Việt bản xứ
tạo nên sự mở mang và phồn hoa đô hội cho quê mới của
mình. Chẳng bao lâu, nơi này đã có bao điều nổi tiếng:
“Roi Thuận Truyền, quyền An Thái”, bún Song thằn, giấy
bản, tơ lụa… và nhất là Lễ Đổ giàn diễn ra vào rằm tháng
Bảy hằng năm. Ngày thường bến sông An Thái đã đông ghe
thuyền mà đến những ngày có lễ Đổ giàn thì đông vô số
kể. “Rủ nhau đi hội Đổ giàn/ Vui thì vui lắm, đò ngang
chật đò” (Ca dao).
Bến sông Trường Thi đã đi vào lịch sử thi cử triều
Nguyễn và vào văn học… Bến Trường Thi ở trước trường thi
hương Bình Định (dành cho bốn tỉnh Bình Định, Quảng
Ngãi, Phú Yên, Khánh Hòa và hoạt động từ 1852-1918). Bên
này là thành Bình Định, là trường thi hương; có nhà của
thi sĩ Yến Lan, Chế Lan Viên; bên kia là làng Hòa Nghi
(xã Nhơn Hòa), quê ngoại của Yến Lan. Bến Trường Thi nối
quê nội với quê ngoại của nhà thơ và đó là cái bến sông
quê trong một bài thơ nổi tiếng: “Bến My Lăng nằm không
thuyền đợi khách/ Rượu hết rồi ông lái chẳng buông câu”
(Thơ Yến Lan). Không có những bến sông quê Bình Định,
chắc khó có cái bến sông trăng cực kỳ lạnh buốt mà diễm
ảo trong thơ của một nhà thi sĩ thuộc trường thơ Bình
Định: “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó/ Có chở trăng về
kịp tối nay?” (Hàn Mặc Tử).
Đi loanh quanh ở thị trấn Bình Định mấy ngày, một hôm
nhờ có ngọn gió bến sông Tân An và đồng An Ngãi thổi
lên, đưa tôi đến nhà người cháu ngoại cụ Cử Nhì, làng
Thái Thuận. Ông bạn này uống cà phê bên lầu Cửa Đông
thành Bình Định với tôi. Ông nói: “Anh đi tìm những bến
nước con đò hả? Nghe sao mà nên thơ! Hồi xưa, tôi đã có
nhiều dịp đi thuyền từ đập Bờ Đỗ thuộc hạ lưu sông Côn
lên tận Cây Cốc, thuộc thượng nguồn sông Côn. Cây Cốc là
tên dân gian hồi xưa quen dùng để gọi thị trấn Phú
Phong, nơi có cây cổ thụ là cây cốc và miễu Cây Cốc. Đi
tới đâu, tôi cũng thấy cảnh “thuyền ta ngược, thuyền ta
xuôi”, những ngã ba sông rộng mênh mông và những bến
sông mát rượi bờ tre con nước cho những chiếc thuyền cắm
sào đậu và những chiếc thuyền từ đó lao vút ra giữa
sông, chọn hướng, rồi trương buồm, phăng gió, rẽ nước ra
đi… Trong các làng quê, ít có nhà không có sẵn chiếc
sõng nan.
Tiếp lời ông bạn, tôi nói: “Tôi cũng đã đi qua những cầu
tre vắt vẻo, cầu khại khó qua. Những chiếc cầu đó ra
đời, thường vì có ông chủ ruộng muốn đi thăm những đám
ruộng của mình ở bên kia sông, vì hai họ kết thông gia
cách trở bởi con sông mà lại muốn năng đi lại với nhau…
Nhưng cũng có những chiếc cầu từ thiện, cầu “làm phước”,
như cầu ở làng Thanh Giang (Nhơn Phong, An Nhơn) do nhà
chùa bắc, cầu Bà Gi do một người đàn bà tên là Đỗ Thị Gi
bắc (nay là cầu bê tông thuộc xã Phước Lộc, huyện Tuy
Phước, nhưng vẫn giữ tên cũ), cầu Ông Ý ở làng Háo Đức
(Nhơn An, An Nhơn) do ông Cử nhân Phan Ý bắc… Cũng như
bến nước con đò, những chiếc cầu tre ấy cũng thật gần
gũi với bao tâm tình của người ta.
Nay mọi chuyện đã khác hết rồi. Mạng lưới giao thông
đường bộ nông thôn mở rộng, đâu cũng đường nhựa, đường
bê tông, cầu bê tông cốt thép và đường nào cũng nhộn
nhịp xe cộ. Sông thì có khúc đã cạn, tưởng như con kiến
còn bò qua được… Lớp trẻ bây giờ, không biết chiếc sõng
nan, thì đừng hỏi có biết không bến Trường Thi, bến đò
Tân An, bến đò Thị Lựa… thân thương ngày nào!
Ghi chép của Huỳnh Kim Bửu
(Bình
Định)